Quê Nam Một Cơi
Hồ Trường An
Chương Mười Một
Ngọc An, Thế
Giới Thi Ca Trữ T́nh
Trong Mùa Thu Diễm
Ảo Của Cuộc Đời
Đối với đa số những kẻ
bước vào tuổi trung niên th́ quả thật khó làm
một bài thơ t́nh mặn mà xúc cảm. Có lẽ những
rung động của con tim trong tuổi hoa niên hay trong
tuổi thanh xuân của họ bị rơi rụng ít
nhiều trên những nẻo đường đời mà
họ đă trải qua.
Lại nữa, gánh mưu sinh hay gánh hệ lụy làm tâm
hồn họ mất sự tươi mát, làm trái tim
của họ chai ĺ không c̣n mẫn cảm nữa.
Song có một điều lạ lẫm: khi đọc
một vài bài thơ của Ngọc An in trong ''Tuyển
Tập Thơ Mùa T́nh Yêu'' do cơ sở Cảo Thơm
thực hiện vào mùa Xuân 2000, tôi ngạc nhiên một cách
kỳ thú: Thơ chị vẫn ăm ắp rung
động, vẫn dạt dào t́nh ư, vẫn bát ngát men
hương nồng đượm say sưa. Dường
như chị sinh ra để làm loại thơ này Tuy không
ướt sũng cảm tính như thơ t́nh yêu của
của T.T.Kh, lại cũng không như loại thơ
trữ t́nh rất dễ thương về phương
diện nhân sinh quan của nữ sĩ Thu Hồng (1)
thời tiền chiến, nhưng t́nh ư chân thành và đôn
hậu trong thơ của chị cũng đă ghi nhiều
dấu ấn đậm đà trong tâm hồn khách
thưởng ngoạn không quá dễ dăi mà cũng không quá khó
tánh.
Khuynh hướng thi ca, Ngọc An đă xác
định ở bài ''Màu Thời Gian'' trong thi tập ''Tiếng Thơ Là Những
Đường Tơ Của Ḷng''.
Người làm
thơ để giải sầu thế sự,
Em
làm thơ vắt cả máu tim ḿnh.
Đem niềm đau từ thuở tuổi sơ
sinh,
Gởi hết cả đời ḿnh theo giấy
mực.
*
Em
đă viết với những điều rất thực,
Với ước mơ sâu kín của riêng ḿnh.
Với t́nh yêu trong trắng thuở nguyên trinh,
Thuyền định mệnh đă vô t́nh đưa
đẩy.
(trang 85)
Vào một buổi sáng chớm hạ, tôi nhận
được một bưu kiện kết xù do Ngọc
An gửi tặng gọi là món quà văn chương
gồm có: 1 tuyển tập thơ văn ''Rừng Thu
Xưa Vẫn Nhớ'' (1998), 2 thi tập ''Tiếng Thơ
Là Những Đường Tơ Của Ḷng'' (1997),
''Từ Miền Biển Sóng'' (2000), 2 tuyển tập
thơ văn gồm của
nhiều tác giả trong đó có thơ của Ngọc An
như ''Hoa Vàng'' (2003), ''Nam
Phong'' (2005). Và đặc biệt là tập thơ của Ngọc
An được phổ nhạc. Mỗi một tác
phẩm là một công tŕnh rực rỡ về h́nh thức:
ruột được tŕnh bày khoáng đăng, sáng sủa và
đầy h́nh ảnh văn gia thi sĩ ở Bắc
California và h́nh ảnh những văn hữu thi hữu
từ bốn phương trời xa xăm đến
viếng Thung Lũng HoaVàng. C̣n b́a được tráng
giấy láng bóng như vóc lănh,
vóc sa-teng và được trang hoàng bằng những tranh
ảnh với màu sắc cực kỳ ngoạn mục.
Nh́n những b́a sách, tôi có cảm tưởng màu sắc
của trăm hồng ngh́n tía lộng lẫy trong hoa viên
ngự uyển nào về tụ họp để mở
hội quần phương
trong ánh thiều quang tươi sáng. Càng đặc
biệt là quyển ''Ngàn Năm Mây Trắng'' (2002) gồm
những bài thơ di cảo của cố thi sĩ Yên B́nh,
người bạn đồng tâm đồng điệu
của Ngọc An và gồm thơ hoài niệm của
chị cùng các bài thơ ai điếu của các tác giả
khác. Đọc qua tác phẩm này, tôi liên tưởng
đến giai thoại đẹp đẽ và u buồn hồi 38 năm
truớc. Số là thi sĩ Đông Hồ thất lộc
vào năm 1969. Vợ của ông là nữ sĩ Mộng Tuyêt
(2) gom hết di cảo của ông để cho in thành
những quyển: ''Úc Viên Thi Thoại'', ''Bội Lan Hành'',
''Hương Gây Mùi Nhớ'', ''Ḍng Cổ Nguyệt'',
''Đăng Đàn'', ''Thiên Địa Gian''... Đó là
những nén nhang tưởng niệm đấng truợng
phu của bà quả phụ tài hoa kia. Cũng vậy, sau khi
nữ sĩ Louise de Vilmorin từ trần, cứ mỗi
tuần người t́nh muôn thuở của bà là đại
văn hào André Malraux vào nghĩa trang thăm mộ bà và
đặt trên mộ một
bó hoa hồng đỏ thằm gọi là kỷ niệm
mối t́nh say đắm của cả hai có sợi dây
văn chương nối kết...
Tôi chưa hề được diện kiến
Ngọc An, chỉ được ngắm chân dung chị
qua nhiều tấm ảnh, đặc biệt là 2 tấm ảnh in trên b́a
trước và trên b́a sau quyển ''Từ Miền Biển Sóng''. Ở
tấm ảnh in trên b́a trước, chị có mái tóc
cắt ngắn chải bảy ba như mái tóc Nữ
Thần Điện Ảnh Greta Garbo vào thập niên 30
của Thế Kỷ 20. Chị mặc áo ngắn tay và
chiếc maxi jupe màu đen đứng bên ghềnh đá ven
biển gợn sóng màu xanh thẳm. Nét mặt chị
buồn bă đăm chiêu. Ở tấm ảnh in trên b́a sau,
chị có mái tóc rối rắm một cách nghệ thuật.
Chị mặc áo hở cổ màu đen nổi h́nh tṛn màu
lam ngọc, khoác bên ngoài chiếc áo veste màu đỏ
của hoa phượng vỹ, hoa vông đồng. Cặp
môi chị tô son màu hồng ngọc rực rỡ. Miệng
chị vẫn khép kín nụ
cười. Dưới đôi chân mày cong cong như viền trăng mỏng,
cặp mắt của chị cũng lộ vẻ
đằm chiêu, như ch́m đắm vào giấc
mộng xa xăm, như không c̣n liên hệ với
thực tại trong cuộc sống. Đây là chân dung
của một nhà thơ nữ kiều diễm không tuổi tác và cũng có
thể là người đẹp gợi hứng cho các thi
nhân (une inspiratrice) như bà Récamier dưới triều
đại Hoàng Đế Na-phá-luân Đệ Nhất .
Vậy xin các bạn hăy đọc thơ t́nh yêu của
Ngọc An để trong một giây phút nào đó, chúng ta có
thể sống lại cái thời trẻ trung với trái
tim mơn mởn tinh khôi. Đây bài ''Giọt Nước
Mắt Em'' trong ''Tuyển Tập Thơ Mùa T́nh Yêu'':
Em đă khóc... một chiều bên gối nhỏ
Mưa
ngoài kia như nặng hạt ru mềm
Gió ngoài
kia như cất tiếng ru đêm
Chia
nỗi nhớ mây dâng sầu ảm đạm...
*
Em đă khóc... ṿm
trời nghiêng sắc xám
Băo
điên cuồng như dừng bước phiêu du
Hoa Phong
Lan thẹn mặt với sương mù
Sao
Bắc Đẩu cũng sa ḍng lệ nhỏ...
*
Em hăy khóc
cho thành nghiêng quách đổ
Giọt
sầu em là băo tố đời anh
Lệ em
rơi là mầm mống xây thành
Cơn thác nổi trong tim anh
từ đó
(trang 7)
Khi Em Hỏi
Rồi
một hôm t́nh cờ anh đến hỏi
Em là ai,
từ đâu đến nơi đây?
Và t́m
hiểu về em thêm chút nữa,
Cuộc
t́nh riêng ngang trái tự bao ngày.
*
Em
vội vă gom hồng lên bếp lửa
Gọi
tim về nhen nhúm chuyện ngày xưa
Ôi! Chóng quá thời
gian trôi lặng lẽ
Hai
mươi năm đau xót mấy cho vừa.
(trong thi tập ''Tiếng Thơ Là
Những Đường
Tơ Của Ḷng'', trang 111)
Lời thơ lẫn ư thơ sao mà sáng loáng như pha
lê, trong vắt như dải suối mà kẻ văn cảnh có
thể nh́n suốt đáy để thấy những ḥn
cuội xinh xinh, những cụm rong mềm mại. Thơ của Ngọc An
đơn giản, lưu loát, nhạc thơ êm như
mộng, dịu như nhung. Ư thơ không thần bí, không
ngoắc ngoéo, rối reng. Ngôn
từ không kiêu sa, không nhiều ngữ pháp diêm dúa, không
có những cụm từ (groupe de mots) phức tạp. Có
người sẽ bảo thơ như thế này không
đặc sắc, như một tời giấy trắng,
như một tấm lụa bạch trơn, cần
phải vẽ, phải thêu một chút ǵ đó cho mặt
giấy, mặt lụa thêm phần ư nhị, thêm phân sinh
sắc hơn. Tôi thiết nghĩ không cần. Cái
đơn giản, cái trơn nhẳn của ngôn từ có
thể làm hiển lộ cái chân t́nh và bộc lộ niềm
tha thiết của tác giả hơn, nhất là ở
những bài thơ lục bát, chẳng hạn như bài
''Bâng Khuâng Nỗi Nhớ'' trong thi tập ''Tiếng Thơ
Là Những Đường Tơ Của Ḷng''. Đọc
bài thơ này, chúng ta có thể liên tưởng đến
giọng điệu trong thơ lục bát của nhà thơ
nữ Hằng Phuơng (3) vào thời tiền chiến .
Bỗng dưng ḷng cảm thấy buồn,
Nhớ quê, nhớ phố, nhớ nguồn, nhớ sông.
Nhớ trời phương cũ mênh mông,
Bao nhiêu kỷ niệm sầu chong ngọn đèn.
Nhớ bàn tay ấm thân quen,
Nhớ lần tiễn biệt bạn hiền năm
xưa.
Sài G̣n sớm nắng chiều mưa,
Đường khuya phố nhỏ, chân khua nhịp
buồn.
Chuyện đời ôm giấc cô miên,
Người đi c̣n lại ưu phiền trong tim.
Tháng ngày in dấu chân chim,
Buồn theo nỗi nhớ ch́m vào hư không!
Mộng xưa chôn chặt trong ḷng,
Người đi biền biệt vời trông bóng h́nh.
Đêm nay trời, nước lặng thinh,
Bâng khuâng nỗi nhớ riêng ḿnh ai hay!
(trang 96)
Bài ''Biển Vắng Th́ Thầm'' trong ''Tuyển
Tập Thơ Mùa T́nh Yêu'' vẫn là bài thơ t́nh yêu. Ở
đây, tác giả không cần nh́n sâu vào nội giới và
vào t́nh cảm của ḿnh. Chị hiểu tâm t́nh ḿnh
bắng một trực giác kỳ diệu giữa khung
cảnh giá lạnh bên bờ biển:
Biển vắng tiếng th́
thầm
Cội thông già im lặng
Xa
rồi... t́nh trăm năm
C̣n đây bờ môi mặn...
*
Lá c̣n đâu
ấp ủ
Cây mùa đông trơ cành
Biết t́m đâu người cũ
Giữa tinh cầu mong manh!
*
Vẫn
giọt nắng thủy tinh
Xuôi thuyền xa bến đổ
Lữ khách vẫn vô t́nh
Đạp vỡ lá vàng khô...
*
Người con gái đợi chờ
Đă chín mùa đông phong
Chín mùa hoa mai nở
Xuân
sắc nhạt môi hồng.
*
C̣n ǵ nữa... người ơi!
Biển tương tư ră rời
Vết t́nh in trên cát
Sóng xô bờ cuốn trôi
...
(trang 8)
Qua các đoạn trích dẫn của hai bài thơ trên, chúng ta đă
thấy ǵ trong thi ca của Ngọc An? Có phải thơ của
chị đầy h́nh ảnh, được kiến trúc
bằng những nét tạo h́nh hay không? Thơ mà thiếu
h́nh ảnh, âm thanh, hương vị, hoặc những ǵ khơi dậy xúc giác,
t́nh cảm chúng ta tức là thiếu những cái va chạm
vào năm giác quan và cơi nội giới chúng ta th́ chúng không c̣n là thơ nói riêng , không
c̣n là văn chương nói chung. Nữ tiến sĩ Helen
Keller bị mù mắt, bị câm điếc từ thuở
nhỏ, nhưng bà vẫn viết văn được. Dù
thế giới màu sắc và h́nh ảnh cùng thế giới âm thanh đóng
chặt cánh cửa đối với bà, tách rời bà
với thế gian, xô dẩy bà vào cơi tối tăm im
lặng suốt đời. Tuy nhiên, c̣n xúc giác của bà
vẫn mở rộng để bà viết những bài tùy
bút đẹp tuyệt vời khi bà sờ đến
những cánh hồng êm dịu, những gị huệ mảnh
mai, những lượn sóng lăn tăn mát rượi
trong ḍng suối. Và c̣n khứu giác nữa chi. Mũi bà có
thể tiếp nhận những mùi hương của
cỏ cây, hoa lá, gió biển v.v... đem lại cho bà
biết bao cảm hứng phong phú để bà viết
văn. Như thế, xúc giác và khứu giác của bà
chẳng những tạo cho bà
trở thành một bậc vĩ nhân trong công cuộc t́m ra
lẽ sống mầu nhiệm, mà c̣n giúp bà trở thành
một hiện tượng rực rỡ trong lănh vực
văn chương.
Vậy th́ những nhà thơ của chúng ta hăy c̣n
tiếp xúc với thế giới màu sắc, h́nh dáng, âm
nhạc, tiếng động, hương vị th́ lẽ
nào chúng ta chỉ biết sáng tác những câu thơ khô khan,
chữ nghĩa vô vị vô hồn như cái thây ma khô
đét, như gỗ đá vô tri hay sao? Thơ mà thiếu những cái va
chạm vào giác quan người đọc là loại trái cây
thiếu sinh tố, là thứ lá héo úa mất hết lục
diệp tố.
Ở thơ Ngọc An,
chúng ta thường bắt gặp những h́nh ảnh
rất thơ, những nét tạo h́nh nhịp nhàng và hài ḥa
trong thiên nhiên: nào mưa rơi giọt mềm, bóng đêm
đen, hoa phong lan, sao BắcĐẩu, nào cảnh biển
vắng, cội thông già, cây mùa đông trụi lá, nào nắng thủy tinh, lối đi
trải lá vàng khô, nào vết t́nh in trên cát, cuộn sống
tràn trên cát... Như thế, ai
mà dám bảo Ngọc An là thợ thơ? Ai mà dám bảo
chị không t́m bắt được ngôn ngữ riêng
biệt của thơ?
Xin đọc bài ''Đêm Mơ'' trong thi tập
''Từ Miền Biển Sóng'':
Hồn em là cả trời mơ mộng
Dẫu biết ngàn năm mây
vẫn bay
Dâu
bể trần ai trong cơi tạm
Vững ḷng tin tưởng ở ngày mai.
*
Anh
đến ḷng em cơn băo dậy
Quỳnh tương em cạn chén t́nh say
Thiên
thu mật ngọt như huyền thoại
Xao
xuyến ḷng này anh có hay?
*
Anh là ảo
mộng giữa mùa đông
Nửa kiếp phù sinh vướng bận ḷng
Gom
cả t́nh anh vào giấc ngủ
Mơ thuyền cặp bến một ḍng sông...
(trang 110)
Đây là h́nh ảnh nửa hư nửa thực,
chập chờn phiêu diễu mà chúng ta thường gặp
trong cơi thi ca thời tiền chiến. Chúng được
Lưu Trọng Lư sử dụng để đưa
thơ ḿnh vào một cơi riêng biệt trong thi giới. Bài
thơ này của Ngọc An dù không hoàn toàn ảnh
hưởng thơ ông ta, nhưng được phản
ảnh một vài mảnh vụn lấp lánh trong một vài
câu rải rác ở đâu đó. Cũng như nhà thơ
họ Lưu, chị đưa bài thơ này vào cơi mộng
cơn say trong cuộc t́nh của ḿnh.
Xin đọc thêm bài ''Tâm Sự Với Xuân 2000'' trong
thi tập ''Từ Miền Biển Sóng'' :
Nắng đă hồng thêm con
phố lạnh
Lung
linh từng đợt gió heo may
Ḿnh
ta lạc bước khung trời vắng
Xác lá
bên đường lất phất bay...
*
Xác lá
như hồn thu vấn vương
Chiêm
bao mộng mị cơi vô thường
Bóng dài nghiêng
đổ trên hè lạ
Chỉ một ḿnh ta giữa phố phường!
*
Nắng đă lui dần vào cơi tịch
Trả nhân gian màu xám âm u
Bàn
tay níu vội thời gian lại
Chân
bước mà nghe sóng dập vùi...
*
Biển ở quê hương biển có hay
Từng cơn xao
động trái tim này
Ḷng
thuyền muôn thuở không dời đổi
Chia
sớt cùng ta chút đắng cay!
(trang 47)
*
* *
Cuộc t́nh nào nếu không có nụ cười th́
cũng có giọt nước mắt. Nụ cười là
nguyên nhân tạo nên những bài Nhạc Thiều Ca (les
Hymnes). C̣n giọt nước mắt khơi thần trí sáng
tạo của thi nhân để h́nh thành những bản
Trữ T́nh Ca (les Odes). Toàn bộ thi ca của Ngọc An
không thiếu Trử T́nh Ca đâu. Chị yêu say đắm
như trôi lênh đênh trong men
rượu nồng ngát say sưa để rồi quên
thực tại, quên bóng tối dĩ văng sau lưng, quên
viễn ảnh tương lai cuối chân trời xa
thẳm trước mắt. Xin đọc bài ''Sóng T́nh''
trong thi tập ''Tiếng Thơ Là Những Đường
Tơ Của Ḷng'':
Một sớm mai thức dậy
Không giống như mọi ngày
Hoa nở rộ trong tim
Hoa cựi trong ánh mắt
*
Ta yêu anh thật rồi
Bởi ḷng ta se sắt
Nhớ người yêu xa xôi
Để ta ṃn
mỏi đợi
*
Ngày đầu mới gặp nhau
Ngỡ như trong tiền kiếp
Quen nhau tự thuở nào
Thương nhau t́nh thắm thiết!
(trang 113)
Giọt lệ không tạo cho Ngọc An sáng tác
những khúc bi ca (les poèmes saturniens). Bi ca vốn là loại thơ để tác giả
nh́n sâu vào đời sống, vào các tấn bi kịch trong
cuộc đời. Chúng ta hăy đọc bài thơ ''La Déesse
du Soleil Couchant'' (''Nữ Thần Tà Dương'') của
nữ sĩ Renée Vivien. Bài thơ này tả cái đẹp
chết chóc với sắc thái cường điệu.
Đây là bài bi ca đúng hơn
bài trữ t́nh.
Tóc em giống lá thu
Hỡi Nữ thần
của chiều hôm, của những phế tích, của buổi tối
Máu buổi hoàng hôn là
màu đỏ của mủ triều thiên của em
Em chọn vùng
đầm lầy tù đọng làm tấm gương soi.
*
Mùi hoa huệ héo tàn và
mùi cành cây ung thối
Bốc hơi từ
tấm áo với những làn xếp biếng trễ
của em; đôi mắt em
Theo dơi một cách uể
oải những cơn mơ mộng xanh xao
Trong giọng nói hăy c̣n
vọng tiếng thổn thức của những cuộc
vĩnh biệt (4).
Giọt lệ
chỉ khơi dậy cho Ngọc An nỗi buồn cô
quạnh, những bài ca trữ t́nh. Xin đọc bài
''Hải Âu'' trong thi tập ''Từ Miển Biển
Sóng''.
Tản mác về đâu những áng thơ
Thời gian như huyệt lạnh sương mờ
Cố tâm nung nấu trong tiềm
thức
Gợi nhớ riêng ḿnh một ước mơ...
*
Ước mơ một kiếp là chim biển
Tung
cánh Hải Âu khắp mọi miền
Côn
đảo xa vời, đồng cát mịn
Chẳng nghe tâm năo nặng ưu phiền.
*
Em
sẽ đùa trăng trong bóng đêm
Rong
chơi mỗi buổi nắng chiều lên
Dang
tay ôm cả khung trời rộng
Nghe
gió vi vu tiếng gọi thầm
*
Người yêu bé nhỏ của ta ơi!
Ta nhớ
thương em suốt một đời
Dù
kẻ chân mây người góc biển
Thuyền t́nh mang măi chẳng hề vơi.
*
Em
ước em là chim Hải Âu
Bao la
tung cánh giữa ưu sầu
Cơ
duyên tao ngộ người yêu cũ
Anh
hỡi... bây giờ anh ở đâu ?
(các trang 106, 107)
Vết thương trong tim tác giả không nhức
nhối lan rộng, nhưng mà sâu sắc dằng dai. Nhà
thơ than văn nhưng không rên rĩ, gào thét. Chị biết
tiết chế t́nh cảm khi đối diện với
cuộc t́nh đă mất, với niềm hạnh phúc đă
phôi pha. Thơ như thế mới gây xao xuyến rất
lâu trong ḷng người đọc. Đây là bài ''T́nh Biển'' cũng trong thi
tập ''Từ Miền Biển Sóng''.
Hỏi ḷng đă thấy đủ chưa ?
Ba mươi năm chẵn có thừa đắng cay
Chữ t́nh vượt khỏi tầm tay
Xuân xanh theo với tháng ngày rong rêu
Bụi t́nh bám vết chân kiêu
Nụ hôn gửi gió một chiều thu sang
Biển tương tư, biển ngỡ ngàng
Để thuyền tách bến lỡ làng duyên nhau
Thuyền đi đâu, thuyền về đâu?
Biển sâu lặng lẽ niềm đau mong chờ
Biển hờn biển giận vu vơ
Đẩy cơn sóng dữ xa bờ cát trôi
Biển bao la, biển ngậm ngùi
Chỉ thuyền mới biết một đời
biển đau
Thuyền lênh đênh giữa biển sầu
Đêm đêm biển hát ngàn câu vỗ về
Ai đi xin nhớ lời thề
Một thời gặp gỡ đam mê nửa vời
Gởi theo sóng nước trùng khơi
T́nh yêu nồng thắm bên trời ly hương.
(trang 64)
Sau đây là bài ''Xuân Lẻ Bạn'' khóc người t́nh
thiên cổ trong thi tập ''Ngàn Năm Mây Trắng''. Nhà
thơ không thắp nén nhang trên bàn thờ hay trước
mộ người quá cố mà chỉ thắp nén tâm
hương trong nỗi hoài niệm thiết tha của ḿnh
. Ở đây, nhà thơ cố mường tượng cái
thế giới bên kia cơi sống mà vong linh của
người bạn ḷng của ḿnh đang lạc lơng trong
đó. Bài thơ không vang vọng tiếng nức nở
huyên náo, tiếng sụt sùi bi ai. Đó chỉ là những
gịng lệ âm thầm trong cơi tịch liêu của một góc
đời sâu kín:
Người ở đó bên kia
vùng đất lạ
Có
đón chờ mùa xuân đến hay không?
Có
giai nhân má thắm với môi hồng
Để ấp ủ t́nh quân đêm giá lạnh.
Người ở
đó một thiên đường bất hạnh
Lặng lẽ buồn biết than thở cùng ai
Đón xuân sang nơi thế giới lạc loài
Ru
điệp khúc cùng sương khuya tẻ nhạt
Người ở đó côn trùng vang khúc hát
Điệu bi ai trong cơi sống vô thường
Để xuân này ḷng mang nặng sầu thương
Xuân lẻ
bạn, người ơi... người có hiểu???
(trang 99)
*
* *
Ngọc An không chỉ thu hẹp thơ của ḿnh vào
t́nh yêu đôi lứa dù trong thứ t́nh yêu ấy, chị
quẫy lộn như con lư ngư gặp nước trong
mát của đầm sâu ao rộng, như chim én nhào lộn
trong bầu trời cao rộng tràn ngập nắng xuân
tươi. Tuy nhiên, t́nh yêu của chị lại thăng
hoa lên một cung bậc cao hơn, lan rộng trong một
lănh vực có ư nghĩa đẹp hơn hay trong một
không gian bao la hơn. Đó là t́nh yêu hướng về
mẹ cha, tổ quốc, chính nghĩa. Đó cũng là
tiếng thơ thời đại mà những nhà thơ vong
gia khứ quốc nào một
khi định cư trên một đất
nước mới cũng xem như là một sứ
mạng, một điểm tựa tinh thần để
khơi nguồn cảm hứng
đang tràn ngập tâm hồn của ḿnh. Ngọc An
đâu thể chỉ yêu
đương sa đà, đâu thể chỉ đắm
đuối trong nỗi đam mê thần tượng t́nh
yêu đôi lứa của ḿnh. Dù sao khi t́m cách dung thân trên
đất nước mới, vết thuơng ḷng của
chị và vết thương tổ quốc chưa hẳn
lành lặn. Ác mộng thời chiến tranh để chống Cộng cứu
nước và ác mộng trong những ngày sông dưới
chế độ Cộng Sản làm sao hết ám ảnh
chị được? Cho nên tâm sự u hoài của
Ngọc An được kư thác vào thi tập ''Ngàn Năm
Mây Trắng''.
Khởi đầu những bài thơ nhớ
nước thương nhà là những bài thơ t́m về
dĩ văng gồm có thời hoa niên và tuổi thanh xuân
của Ngọc An. Khoảng thời gian ấy
được các thi nhân, văn gia dùng rất nhiều sáo
ngữ thời đại nào là tuổi hoa, tuổi hồng,
tuổi ngọc, tuổi ô mai, thuở dậy th́ v.v... Nhưng giờ đây
độc giả kiều bào đă vào tuổi trung niên,
đă thu ḿnh vào mùa thu cuộc đời trên đất
khách rồi th́ chẳng những họ không thấy
những ngôn từ ấy rổng sáo nữa ; mà trái lại
chúng trở nên thân thuơng đối với tấm ḷng
hoài niệm của họ. Chúng gợi nên một chặng
đời mộng ảo mơ hoa vô cùng kỳ thú của
ḿnh.
Chiều trở lại trên con
đường tuổi ngọc
Tôi quay
về một dĩ văng mờ xa
H́nh
ảnh ngôi trường, tà áo thướt tha
Hàng
phượng đỏ ven đường tươi
nắng ấm...
*
Trong hoài
niệm hiện về từ xa thẳm
Của
một thời thơ dại sống hồn nhiên
Bên
thầy cô, sách vở, lũ bạn hiền
Tôi có cả mưa
xuân và nắng hạ...
(''Một Dĩ Văng'',
trang 163)
Đường về kỷ niệm đâu phải
chỉ ngừng lại ở ngôi trường lớp
học mà ở quê hương của tác giả. Đó là
Vũng Tàu, một thành phố du lịch danh tiếng,
một thị trấn hoa lệ bên bờ Nam Hải
của đất nước Nam Kỳ Lục Tỉnh.
Không gian nơi đó bao la khoáng đạt dễ mở
rộng nội giới những kẻ mang sẵn ṇi
thơ, đưa cảm khái bát ngát và cảm hứng lai
láng vào tâm hồn họ.
Vũng Tàu biển sóng vây quanh
Em về t́m lại ngày xanh tuổi hồng
Bao nhiêu năm cuộc phiêu bồng
Quê hương vời vợi đau ḷng đỗ quyên
*
Ŕ rào gió cát hàn huyên
Từ em cất bước truân chuyên dập dồn
Rặng dừa rũ bóng hoài mong
Mà người đi măi cánh hồng bay xa...
*
Thôi đành dấu mộng hải hà
Thuyền neo bến đợi trăng tà quạnh hiu
Bao nhiêu hạnh phúc chắt chiu
Đào Nguyên một thuở Nguyễn Lưu lạc
đường!
*
Ai về gối mộng tơ vương
Ai đi biền biệt một phương ngóng
chờ
Con đường kỷ niệm ngẩn ngơ
Tương lai, hiện tại, thẫn thờ... chiêm
bao...
(''Biển Nhớ'',
trang 146)
Từ niềm nhớ thương cố hương
Vũng Tàu, tâm hồn tác giả bay xa hơn để
đến những địa danh mà chị đă
đến viếng thăm hay chỉ biết qua sách vở
hay qua lời đồn đăi. Nhưng dù th́ dù, tất
cả địa danh ấy đều nằm trong non sông
tổ quốc chúng ta mà nơi xứ lạ quê người
tác giả luôn ấp ủ một niềm thương
mến luôn tươi thắm đậm đà .
Sáng hôm nay nghe gió về lành lạnh
Thu đă
chuyển mùa, anh có biết không?
Mây lang
thang, hồn trĩu nặng nhớ mong
Nắng
d́u dịu, ḷng em buồn man mác...
*
Em
bỗng nhớ mùa Thu xưa Đà Lạt
Mây Lam
Viên mờ ảo phủ rừng thông
Mi-mô-sa
từng hạt lệ rưng rưng
Bên
hồ biếc, xôn xao cơn sóng gợn.
*
Em
chưa có mùa Thu sông Hương núi Ngự
Huế
mơ màng ôm cung điện ngh́n xưa
Huế
của ai... sao nhiều nắng lắm mưa
Em ao
ước được một lần hạnh ngộ!
*
Em nghe
nói: trời mùa Thu Hà Nội
Heo may
về từng đợt gió buồn hiu
Lá vàng
rơi trên đường phố cô liêu
Hồ
Lăng Bạc, dấu tích xưa huyền sử...
*
Thế
là đă hơn mười Thu cô lữ
Lá quê
người sắc vàng đỏ mênh mang
Nhưng trong em, bao
kỷ niệm úa vàng
Niềm
cố quốc... quê hương xa vời vợi...
*
Anh
biết đó, em vẫn hằng mong đợi
Một
mùa Thu... ta nhặt lá vàng rơi!
(''Dấu Chân Thu'',
trang 145)
Dù Đà Lạt có đôi lần tác giả thăm
viếng, dù Huế và Hà Nội
có nhiều lần chị mơ tưởng, nhưng
đó là những h́nh bóng xa xăm hay những h́nh bóng trong
cơi mường tượng mà thôi. Tuy nhiên, mấy nhịp
cầu tre, mấy nhánh sông trên mảnh đất miền
phù sa Sông Cửu vẫn là những h́nh ảnh gần
gũi với tâm t́nh chị hơn. Dù là những h́nh
ảnh tầm thuờng, nhưng vẫn ghi biết bao
dấu ấn kỷ niệm
yêu dấu và nhất là h́nh ảnh song thân của
chị trong trái tim của chị. Chị nhân cách hóa con sông
cái như người mẹ hiền (sông Mẹ). C̣n
những nhánh sông phụ lưu, chi lưu là đàn con. Tuy
nhiên, tác giả c̣n ví những ḍng sông (sông cái lẫn rạch
con) là những ḍng sữa của Đất Mẹ nuôi dưỡng những
đứa con của Tổ Quốc thân yêu nữa. Một
bài thơ mà hàm chứa nhiều ẩn dụ lớn lao
như vậy vẫn là một bài thơ sản sinh từ
thần trí sáng tạo tuyệt vời. Nhưng những
nhịp cầu tre th́ tượng trưng cho cái ǵ
đây? Tác giả dù không nói ra,
nhưng chị đă mở cho chúng ta những ḍng liên
tưởng đến những niềm cảm thông
nối liền những tâm hồn ḥa hợp và đồng
điệu với nhau, những niềm gắn bó da
diết giữa những t́nh người đồng chủng
đồng hương với nhau. Xin đọc ''Mấy
Nhịp Cầu Tre Mấy Nhánh Sông'' trong thi tập ''Từ Miền Biển Sóng'' :
Có ai c̣n nhớ ḍng
sông Mẹ
Sinh trưởng đàn con nay lớn khôn
Chắp cánh đoạn trường nơi
đất lạ
Quê nhà Mẹ khóc tạ ḍng sông...
*
Ra
đi con Mẹ có vui ǵ
Giọt lệ tuôn tràn phút biệt ly
Đau xót nghẹn ngào chân bước vội
Âm vang nhạc khúc biệt
kinh kỳ...
*
Mấy nhịp cầu tre mấy nhánh sông
Như ḍng sữa ngọt Mẹ nuôi con
Nặng t́nh sông núi bao xa cách
Thao thức từng đêm nát cơi ḷng!
*
Nửa mảnh trăng buồn như vấn
vương
Chim Quyên khóc bạn buổi lên đường
Ḍng sông tức tưởi đau ḷng nước
Mấy nhịp t́nh sầu biệt cố
hương...
(trang26)
Ở các đoạn sau của bài thơ ''Mấy Nhịp Cầu Tre
Mấy Nhánh Sông'' h́nh như tác giả không chỉ tự than văn hoàn cảnh
bất lực của ḿnh v́ chị nghĩ rằng ḿnh không
làm được cái ǵ cho quê hương trong cảnh
quốc phá gia vong. H́nh như chị nhắn nhủ
những người cựu chiến binh, những kẻ
nuôi bền lửa thiêng ái quốc hăy góp tay góp sức vào
đại cuộc. Xin đọc tiếp:
Phong sương đă nhuộm trôi màu tóc
Tuyết lạnh trời Tây bạc mắt môi
Ư
chí quật cuờng không thể mất
Nhưng... cao niên kề một bên rồi!
*
C̣n đâu anh dũng hiên ngang ấy
Góp mặt sa trường lướt gió mây
Vượt
sóng trùng dương cơn băo tố
C̣n đây... những ḍng lệ đêm ngày !
*
Thôi rồi một mảnh tàn y
Súng gươm trả
lại, oai nghi trao
người
Hai lăm năm, chẳng nụ cười
Hồn thiêng sông núi, đất trời chứng minh
Đàn con v́ kế mưu sinh
V́ hờn non nước điêu linh một thời
Ra đi góp gió phương trời
Mong ngày trở lại rạng ngời quê hương
Hai lăm năm, khóc đoạn trường
Mộng cao chí cả như sương dật dờ
Gửi hồn vào những vần thơ
Niềm riêng canh
cánh đợi chờ b́nh minh
Soi gương chợt thấy bóng h́nh
Da nhăn tóc bạc giật ḿnh Mẹ ơi...
(trang 27)
Nỗi niềm nhớ nước nhớ quê có
thể hiện diện qua địa danh, h́nh ảnh trong
bài thơ ''GịngTâm Sự Nhỏ'' trong thi tập ''Thơ Là
Những Đường Tơ Của Ḷng''. Tâm sự hoài
hương vẫn là tâm sự chung cho kiều bào. Nó
tầm thường, phổ thông, nhưng mà nó ǵn vàng
giữ ngọc cho những con người c̣n thương
tưởng tới cố quốc, không v́ bă lợi danh
ở hải ngoại mà mất gốc mất rễ. Bài
thơ hoài hương càng có nhiều h́nh ảnh quê
hương càng chứng tỏ tâm t́nh hoài vọng của
tác giả càng tha thiết, càng thắm đượm và
thâm thúy biết ngần nào! Niềm yêu quê làm cho tác giả
thấy địa danh nào cũng đẹp, h́nh ảnh nào
cũng nên thơ cả. Chị cố t́nh gọt sạch
gai góc của xă hội phiền phức tại các địa
danh ấy, chỉ giữ lại cái ǵ có khía cạnh tích
cực và tốt đẹp trong tâm khảm của ḿnh mà
thôi.
Quê ta đó phía bên kia
bờ biển,
Thái b́nh dương nay xa cách ngh́n trùng
Ôi! Vũng Tàu nỗi nhớ thật mênh mông,
Những thành phố, đồng bằng và sông núi...
*
Ta
ra đi với bao niềm hờn tủi,
Bởi quê hương đang nặng dưới gông
xiềng.
Và
Tự Do tiếng gọi quá thiêng liêng,
Mang ta tới nơi chân trời xa lạ.
*
Mảnh hành lư đầy thương yêu nỗi
nhớ
Người
ra đi tung đôi cánh thênh thang.
Bỏ lại sau lưng những lũy tre làng,
Con phố cũ, đường trơn màu
đất đỏ.
*
Nhớ Đà Nẳng, Nha Trang
chiều lộng gió,
Huế Cố Đô với thành quách rêu phong
Đà Lạt mờ sương che phủ đồi
thông,
Cần Thơ đó, bến Ninh Kiều sóng gợn.
*
Phố biển Vũng Tàu, một thời mới
lớn,
Dấu chân xưa trên cát có c̣n chăng?
Những
gịng sông êm ả tắm màu trăng,
Con đ̣ nhỏ khua chèo trên bến cạn.
*
Và tất cả
nhạt nḥa trong ánh sáng,
Ḥn Ngọc Viễn Đông sắc thắm Sài G̣n
Thủ đô một thời t́nh nghĩa sắt son,
Bao chiến sĩ v́ quê hương nằm xuống.
*
Ta
nhớ rơ như in trong tâm tưởng,
Những con đường, dăy phố, những ḍng
sông.
Những cái tên quen thuộc đến nằm ḷng,
Từ B́nh Triệu chạy dài vô Chợ Lớn.
*
Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà, Bưu
Điện,
Chợ Bến Thành, Cầu Muối, chợ B́nh Tây...
ChùaVĩnh Nghiêm vươn tháp nhọn, ai xây?
Lăng Ông đó, những mùa xuân hái lộc!
*
Bao thương nhớ ḷng ta thêm thổn thức,
Những dấu yêu, kỷ
niệm một thời xa.
Việt Nam ơi! Hỡi đất tổ quê nhà,
Xin trang trọng gửi gịng tâm sự nhỏ.
(các trang37, 38, 39)
Tổ quốc giang sơn là một vấn đề
to rộng. Chúng ta yêu nó qua hồn thiêng Mẹ Tổ
Quốc, qua anh linh các đấng tiền nhân đă đành.
Nhưng cái ràng buộc chúng ta ngoài mảnh đất
cố hương c̣n có gia đ́nh chúng ta. Hai đấng
sinh thành của chúng ta mới là hai mănh lực mầu
nhiệm để chúng ta gắn bó với cố quốc.
Cũng như bao nhiêu nhà thơ nữ nặng óc gia
đ́nh khác, cũng như bao nhiêu đứa con
thương mến mẹ cha mà phải chịu cảnh lạc
loài khác, Ngọc An vẫn không quên song thân của ḿnh dù
ở một phương trời hải ngoại chị
bận bịu với cuộc muu sinh phức tạp
để đạt thành quả tốt đẹp đi
nữa. Có t́nh yêu thương sâu sắc đối với
cha mẹ, chị mới vững chải bước vào
đời, mới giữ niềm tin yêu trong cuộc
sống. Có t́nh yêu thắm đượm của
người t́nh anh dũng, tâm hồn chị mới tràn
ngập hoài cảm, ng̣i bút
chị mới nở hoa.Trong những tác phẩm thi ca
của Ngọc An, h́nh cha bóng mẹ hiện diện rất
nhiều. Mẹ cha chẳng những đă khơi nguồn
cảm hứng tràn trề cho thơ chị mà c̣n là một
ám ảnh không nguôi đối với chị. Cho nên trong
thơ, khi chị viết chữ Cha hay chữ Mẹ th́ hai chữ đầu (chữ C
và chữ M) đều là chữ hoa.
Bài thơ ''Hăy V́ Tôi'' trong thi tập ''Rừng Thu
Xưa Vẫn Nhớ''nói lên niềm hoài vọng của tác
giả đối với nghiêm phụ của ḿnh, trong bài
có hai đoạn nhắc tới
từ mẫu của ḿnh. Ư thơ đơn giản,
t́nh thương yêu của chị đối với song
thân chị bao giờ cũng đơn giản, cũng
hồn nhiên, nhưng rất nồng đượm,
rất chân thành. Bài thơ của kẻ nào đó dù có
vụng về thô tháp cách mấy, nhưng bản chất
chân thành của nó vẫn đưa thơ đi sâu vào tâm
hồn độc giả một cách dễ dàng, trơn
ngọt :
Nếu có dịp ghé qua vùng biển mặn
Hăy v́
tôi, xin đôi phút dừng chân
Thăm dùm Cha tôi, tuổi sắp cửu tuần
Thăm dùm Mẹ, mộ phần nơi hoang lạnh...
*
Cha
của tôi... tóc phủ màu sương trắng
Một thân gầy lặng lẽ sống cô liêu
V́ non
sông người vẫn chắt chiu
Ôm
hoài băo dẫu da mồi tóc bạc !
*
Đường đấu tranh trên nẻo đời
luân lạc
Bước công danh sáng tỏ một phương
trời
Bao đêm
rồi con thao thức Cha ơi !
Mong
tuổi thọ của Cha dài thêm nữa...
*
Người hăy v́ tôi nhóm lên bếp lửa
Nấu nước pha trà
đôi chén mời Cha
Con
gái không về trong dạ xót xa
Ngụm trà nóng cho ḷng Cha ấm lại!
*
Đồng cát trắng đă từng đêm khắc
khoải
Ôm
nỗi sầu, Mẹ hát khúc thiên thu
Mẹ đă về trong thế giới hoang vu
Con xa vắng
để mộ phần lạnh lẽo...
*
Tha
thứ cho con đường xa vạn nẻo
Giải Ngân Hà cách trở tháng ngày qua
Hăy v́ tôi, v́ t́nh bạn chúng ta
Đốt hộ tôi những tuần nhang trên mộ!
*
Hồn mẹ tôi sẽ linh thiêng phù hộ
Hương nhang thơm quyện đến cơi
trời Tây
Cho
chúng ta duyên tao ngộ một ngày
Trên
đất khách pháo hoa bừng nở rộ...
(các trang 70, 71)
Nhưng rồi cha tác giả cũng chết theo
người bạn trăm năm của ḿnh. Đó là vào
tháng sáu, nhưng tác giả không nói rơ năm nào, tháng sáu
dương lịch hay tháng sáu âm lịch? Nhưng chắc
chắn lúc đó trên đất nước Miền Nam
Việt Nam, mùa mưa dầm đă vào sâu. Nhưng cũng
tháng sáu ấy, cũng không rơ vào năm nào, người t́nh
chiến sĩ của chị đă vùi thân vào ḷng
đất lạnh. Hai cái tháng sáu thống khổ đă ghi
vào cơi hoài niệm nhà thơ nữ Ngọc An, nên chị
chiêu niệm anh linh họ về trong phút hồi
tưởng bi thương của chị.
Xin đọc bài ''Tháng Sáu Ta Buồn Tim Tái Tê'' trong thi
tập ''Từ Mièn Biển
Sóng''.
Năm nào tháng sáu ta rong
chơi
Ánh nắng chiều
nghiêng dưới mặt trời
Đuổi bướm vờn quanh hàng dậu tím
Thả diều theo
ngọn gió chơi vơi...
*
Lần lữa bao mùa Xuân nở hoa
Mấy đông
trở giấc đọng sương pha
Thả trôi mơ mộng vào hư ảo
Ôm chuỗi ngày
buồn lẫn xót xa!
*
Tháng
sáu nào mưa băo ngút ngàn
Tiễn người chiến sĩ vượt quan san
Đưa
người yêu mến vào ḷng đất
Ta
đă một thời lệ chứa chan...
*
Tháng sáu này ta đếm tủi hờn
Cha vào huyệt lạnh với cô
đơn
Hôm
nào bên cửa Cha c̣n đứng
Vẫy vẫy tay chào để tiễn con!
*
Tháng sáu con buồn tim tái tê
C̣n
đâu Cha đứng đón con về
Âm
dương cách biệt rồi Cha nhỉ?
Vĩnh viễn ôm sầu trong giấc mê...
*
Con thấy Cha
từ trong bóng đêm
Bạc phơ mái tóc, ngủ êm đềm
Giấc ngủ ngàn năm không trở dậy
Cho
con chua xót nghẹn ngào thêm!
*
Từ đây cho đến cuối đời con
Một bóng đơn côi giữa xứ người
Con
khóc khi đời dâng băo tố
Con
cười... nhưng giọt lệ đầy vơi...
(các trang 33, 34)
Trót yêu quê hương khốn khó, trót không thể cho
tâm t́nh ḥa điệu với cuộc sống trên xứ
sở định cư, dĩ nhiên những nhà thơ luôn
mơ một ngày về vinh quang khi đất nước
dựng lại ngọn cờ xưa. Nhưng giấc
mơ ấy, họ thầm
biết chỉ măi măi là giấc mơ. Và dù ngọn cờ
xưa có t́m lại trên cố quốc chăng nữa,
nhưng chắc ǵ họ c̣n sống sót để trở
về nh́n lại nó vẫy lộng trong bầu mây tạnh
trời trong. Song họ vẫn tiếp tục mơ. Tâm
trạng đó là tâm trạng chung của kiều bào
nặng t́nh nghĩa, trong đó có tâm trạng của nhà
thơ nữ Ngọc An. Xin đọc bài thơ ''Sẽ Có
Ngày'' trong thi tập ''Từ Miền Biển Sóng'':
Sẽ có một ngày ta trở
lại
Núi sông
hùng vĩ mượt màu xanh
Gịng
thác reo vui mừng khách lạ
Hoa
Xuân đua nở rộ trên cành
*
Sẽ có một ngày tay siết tay
Mừng mừng tủi tủi rượu, thơ, say
Tàn
đêm thức trắng niềm tâm sự
Thân
phận ly hương những tháng ngày !
*
Sẽ có một ngày ta với ta
Đồi cao vang dậy khúc hoan ca
Chim
muông cầm thú cùng vui hót
Chào đón
mùa xuân đẹp thái ḥa...
*
Sẽ có một ngày bao chiến binh
Trở về đất Mẹ giữa b́nh minh
Thuyền xưa bến cũ dang tay đợi
Lệ đá
rưng rưng khóc chuyện t́nh...
*
Chuyện t́nh của những kẻ ly hương
Quên
mất mùa Xuân chốn dặm trường
Bỏ ngơ tim hồng nơi xứ
lạnh
Nh́n
nhau bỡ ngỡ, tóc pha sương!
*
Sẽ có một ngày con của Mẹ
T́m
về gịng máu chảy trong tim
Thiết tha
nguồn cội bao ngăn cách
Dựng lại non sông kiến thái b́nh...
(trang 23)
*
* *
Trong cơi thi ca, nữ sĩ Ngọc An có hai khuôn mặt:
khuôn mặt của một người t́nh nhu ḿ âu yếm
thường tâm sự với người yêu của
bằng lời mềm mỏng, gắn bó. Đó là những
lời thoát thai từ tấm ḷng tha thiết và bền
sắt tươi son. Khi hạnh phúc, chị không reo vang
tưng bừng tở mở, không ba hoa với ngọn trào
ḷng lai láng của ḿnh. Khi đau khổ, chị không bù lu bù
loa, tru tréo như Nguyễn thị Hoàng, không dảy đành
đạch như Túy Hồng, không khinh bạc kiêu kỳ
như Linh Bảo (bên văn xuôi). Chị chỉ than thỉ
một cách dịu dàng. Tiếng thở dài của chị
mỏng nhẹ, ngắn ngủi, nhưng dễ thấm sâu
vào ḷng người.
Khuôn mặt thứ hai của chị trong thi ca là khuôn
của một người phụ nữ gắn bó với
tổ quốc quê hương và chính nghĩa. Chị không
nguyền rủa, không đả kích trắng trợn
chế độ đương thời ở quê nhà, không
hằn học với những kẻ làm đất
nước điêu đứng lầm than. Chị vẫn
giữ thái độ điềm đạm rất
thục nữ và rất thùy mị khi viết những bài
thơ cho quê hương, cho những người vị
quốc vong thân, cho những kẻ gánh vác hệ lụy sau
cuôc đổi đời trên đất nước.
Sáng tác thơ chị không cần g̣ gẫm, cứ
để cho mạch thơ tuôn tràn lưu loát như
chất mật ong ngọt ngào rót vào chén sứ mỏng tanh.
Chị không gọt tỉa trau chuốt ngôn từ một
cách tỉ mỉ như người sành điệu gọt
tỉa củ thủy tiên thành h́nh trân cầm thụy thú
trong dịp Tết. Chị cũng không cần thoa son
đánh phấn cho ngôn từ, không cần chạm trổ
những ngữ pháp tân kỳ. Có vậy t́nh cảm trong
thơ được hồn nhiên chân thực. Bởi
đó chúng ta không lấy làm lạ tại sao thơ chị
thật truyền cảm.
...............................................
Chú thích:
(1) Thu Hồng là nhà thơ nữ thời tiền
chiến, vốn là một tôn nữ đất Thần
Kinh. Bà là tác giả thi tập ''Sóng Thơ''. Bà mất tích
trong thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và
Việt Minh. Sau đây là
đoạn thơ tiêu biểu của bà trong thi tập
''Sóng Ḷng'' :
Mầm chán nản chớ len
vào niên thiếu
Chớ len vào sớm quá tội em
mà!
Em như nghe thời ấy vẫn c̣n xa,
Em chậm chậm để mong c̣n xa măi;
Hăy là
hoa, xin khoan là trái,
Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua.
(2) Mộng Tuyết là nhà thơ nữ đất Hà
Tiên, là vợ của thi sĩ Đông Hồ. Bà đoạt
giải văn chương do nhóm Tự Lực Văn
Đoàn chủ trương vào
năm 1939 qua thi tập ''Phấn Hương Rừng''. Vào
năm 1960, bà cho xuất quyển tiểu thuyết ''Nàng Ái
Cơ Trong Chậu Úp'' qua bút hiệu Mộng Tuyết
Thất Tiểu Muội. Vào năm 1972, bà cho xuất
bản thêm thi tập ''Gầy Hoa Cúc''.
(3) Hằng Phương
là con gái nhà chí sĩ Sở
Cuồng Lê Dư và là vợ phê b́nh gia Vũ Ngọc Phan. Bà
cùng 3 nữ sĩ Vân Đài, Mộng Tuyết và Anh Thơ
cho xuất bản chung quyển hợp tuyển thi ca
''Hương Xuân''. Vào thời
tiền chiến, các nhà thơ
nữ như Hằng Phương, Vân Đài, Mộng
Tuyết, Anh Thơ, được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào quyển biên khảo
''Thi Nhân Việt Nam''. Về sau ít lâu c̣n xuất hiện thêm
Ngân Giang và Mộng Sơn. Sáu nữ sĩ này vào thời
kỳ Đệ nhất Cộng Ḥa tại Miền Nam
Việt Nam được Nguyễn Tấn Long và Nguyễn
Hữu Trọng đưa vào quyển biên khảo
''Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến''. Sau đây là bài
thơ tiêu biểu ''Ḷng
Quê''của Hằng Phương trang tặng Vũ Ngọc
Phan đă đăng trên tạp chí Hà Nội Tân Văn:
Xưa kia em ở bên trời,
Ngây thơ chưa rơ cuộc đời là chi.
Mặc cho ngày tháng trôi đi ,
Tóc mây nào biết có khi bạc đầu.
Chim non ở chốn rừng sâu,
Quanh ḿnh chỉ thấy một màu xanh xanh.
B́nh minh buổi ấy gặp anh,
Rủ em ra chốn thị thành xa khơi
Yêu anh em hóa yêu đời,
Theo anh chắp cánh tung trời bay cao.
Anh đưa em đến vựn đào,
Màu tươi sắc thắm em nào dám chê.
Nhưng em luống nặng hồn quê,
Nhớ thương cảnh cũ bốn bề núi non.
Nhớ nơi làng xóm con con,
Nhớ hương cây quế chon von trên đồi.
Bạn xưa, nhớ yến tha mồi,
Cành xưa, em đỗ những ngay c̣n thơ...
Đường xa, ngoảnh lại ngẩn ngơ,
Trông theo mây trắng thẫn thờ mắt xanh.
(4) Đây là bài thơ của nữ sĩ Renée Vivien
tặng người đẹp Eva Palmer, một phụ
nữ trí thức ưa khảo cứu văn minh
Hy-lạp. Nàng có mái tóc hung hung đỏ như sắc mây
hoàng hôn, thường gợi hứng cho các thi nhân vào
Thời Đại Mỹ Lệ (la Belle Époque, tức là vào
thập niên 10 của Thế kỷ 20). Cho nên thời nhân
gọi nàng là ''Nữ Thần Tà Dương''.
Tes cheveux sont pareils aux feuillages d'automne
Déesse du couchant, des
ruines, du soir !
Le sang du crépuscule est ta
rouge couronne,
Tu choisis les marais
stagnants pour ton miroir.
*
L'odeur des lys fanés et des branches pourries
S'exhale de ta robe aux plis
lassés ; tes yeux
Suivent avec langueur de
pâles rêveries ;
Dans ta voix pleure encor(e)
le sanglot des adieux.